OPEN

Vi sinh cắt Tảo

Thành phần gồm nhiều loại vi sinh được tổng hợp từ các chủng Vi sinh có lợi, với nguyên lý cắt đứt nguồn thức ăn của Tảo, làm tảo mất nguồn dinh dưỡng và tự phân hủy. Đặc biệt, không ảnh hưởng đến nguồn nước, đất và Tôm, không tồn dư trong môi trường và gây ảnh hưởng đến môi trường như CuSO4. Tác dụng nhanh chỉ sau 2-3 lần sử dụng... Đặc biệt trộn cho ăn có tác dụng giúp Tôm phòng và trị được các bệnh gây ra bởi đường ruột như tắc ruột, viêm ruột, sưng mủ...

Giới Thiệu AGBIO

* Thành phần:

Acid Citric 36%

Acid Tartaric 4%

Acid Sorbic 5%

Acid Malid 4%

Acid Fumalic 7%

Yeast extract 3,5%

Peptone 3,5%

Potassium Photphate 3%.

 

Sodium Citrate 7%

Bacillus 2,1%

Enzyme Premix 2,8%

Sodium Saccharin 1,8%

Potassium Chloride 1,5%

Vanilla 8,8%

Dextrose 5%

Saccharomyces Cerevisable 5%

 

 

* Công dụng:DSC 4199

- Cắt tất cả các loại tảo độc trong ao đồng thời phân hủy xác tảo, mùn bã hữu cơ, khí độc ở trong ao.

- Đặc trị các bệnh viêm ruột, sưng ruột, có mủ trong đường ruột, tắt ruột,… giúp cho đường ruột khỏe mạnh, tiêu hóa tốt thức ăn.

 

* Hướng dẫn sử dụng:

- Cắt tảo độc 250g/ 2000m3, sử dụng lúc trời nắng gắt (3 - 4 giờ chiều).

- Phòng và trị bệnh viêm ruột: 2g/kg thức ăn.

 

* Hướng dẫn bảo quản:

- Để nơi thoáng mát, khô ráo. Tránh ánh sáng chiếu trực tiếp.

 

*Qui Cách : Gói 250g, thùng 25 gói

 

Ảnh hưởng của CUSO4

Trong nuôi tôm cá, khi tảo phát triển mạnh sẽ tạo ra nhiều hệ lụy cho môi trường ao nuôi như: dao động pH trong ngày lớn (pH chiều có thể lớn hơn 9,0). Trong khi đó vào lúc gần sáng (3-4 giờ), quá trình hô hấp của tảo sẽ hấp thu một lượng lớn O2 trong môi trường và thải ra một lượng lớn CO2, từ đó kéo theo pH trong ao bị giảm thấp. Kết hợp với điều kiện oxy thấp, hệ miễn dịch của tôm sẽ suy yếu và dễ mắc bệnh. Vì vậy, quản lý mật độ tảo thích hợp trong ao là một vấn đề kỹ thuật rất quan trọng. Khi tảo trong ao phát triển quá mạnh, người nuôi thường nghĩ tới biện pháp ngắn nhất, nhanh nhất là diệt tảo. Tuy nhiên, ta cần phải thấy rằng, tảo muốn phát triển thì cần phải có dinh dưỡng và ánh sáng. Do đó giảm dinh dưỡng trong nước là biện pháp cắt nguồn dinh dưỡng để hạn chế tảo phát triển quá mức. Tuy vậy, sử dụng hóa chất để diệt tảo vẫn là một biện pháp cuối cùng khi những biện pháp áp dụng vẫn không kiểm soát được tảo.

* Sulfate đồng là một dạng muối đồng ngậm nước (CuSO4.5H2O), ở dạng tinh thể có màu xanh, không mùi. Được bắt đầu đưa vào sử dụng trong xử lý rong tảo và trị bệnh ký sinh trùng trên động vật thủy sản vào những năm 1950. Khi sử dụng sulfate đồng vào trong nước chúng sẽ phân ly thành ion Cu2+ và SO42-. Cu2+ không bị thủy phân nên độc đối với tảo, ký sinh trùng và tôm cá nuôi cho đến khi bị loại thải ra khỏi môi trường nước do hấp thụ bởi bùn đáy ao, kết tủa với các hợp chất vô cơ trong môi trường kiềm, hoặc tạo phức với các hợp chất hữu cơ trong môi trường acid (EPA, 1985). Khi sử dụng sulfate đồng trong ao nuôi có pH và độ kiềm cao, Cu2+ sẽ nhanh chóng phản ứng với các ion như CO32-, HCO3- và OH-tạo thành dạng không hòa tan và sẽ mất tác dụng. Trong khi đó ở ao nuôi có pH và độ kiềm thấp, Cu2+ sẽ tồn tại thời gian dài, làm tăng độc tính đối với tảo, ký sinh trùng và cả tôm cá nuôi.

* Ảnh hưởng của các hợp chất đồng lên thủy sinh vật

Đối với tảo:

Nguyên lý tác dụng của Cu2+ là ức chế quá trình quang hợp và sự phát triển của tế bào. Tảo trong môi trường sẽ bị ảnh hưởng khi hàm lượng Cu2+ gây độc trong nước dao động từ 0,001~4,0 mg/L. Rất nhiều loài tảo sẽ bị ảnh hưởng ở nồng độ 0,06 mg/L kể cả các loài thuộc ngành tảo lam. Một số loài rất nhạy với sulfate đồng và chelate bao gồm: Spirulina platensis,Scenedesmus sp. (tảo lục), Skeletonema costatum và Nitzschia closterium (tảo khuê) và một số loài tảo nước lợ mặn khác như Gymnodinium splendensScrippsiella faroense,Thalassiosira pseudonana, và Asterionella japonica. Các chelate đồng có thể tiêu diệt một số tảo lam như là Anabaena spiroides và Microcystis aeruginosa, tảo lục (Spirogyra sp.) và tảo khuê (Peridinium inconspicuum) ở nồng độ 0,05~0,2 mg/L Cu2+ sau 3 ngày sử dụng.

Đối với động vật phiêu sinh và động vật đáy:

LC50 48 giờ dao động từ 0,01~9,0 mg/L Cu2+ đối với giáp xác là 0,039-2,6 mg/L Cu2+ đối với nhuyễn thể (Harrison, 1985). Nhóm giáp xác râu ngành Daphnia, LC50 48 giờ là 68~87 µg/L (Harrison, 1986). Nồng độ 0,028 mg/L Cu2+ sẽ ức chế sự phát triển của một số loài ốc như Physa integraCampeloma decisum.

Đối với tôm cá nuôi:

Trên tôm sú Penaeus monodon giống, nồng độ LC50 96 giờ là 3,13 và 7,73 mg/L trong môi trường nước mặn 15‰ và 25‰ tương ứng. Tôm được nuôi trong môi trường có hàm lượng Cu2+ là 0,9 mg/L sẽ làm cho tăng trưởng của tôm giảm. Ở nồng độ 5,0 mg/L Cu2+ tôm sẽ ngừng ăn (Chen và Lin 2001). Đối với tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei, ở nồng độ 1 mg/L Cu2+ sẽ làm suy giảm miễn dịch của tôm trong 24 giờ và gia tăng tính mẫm cảm đối với nhóm vi khuẩn Vibrio (Yeh et al., 2004)

Trên cá da trơn Ictalurus punctatus, LC50 48 giờ của sulfate đồng là 1,25 mg/L CuSO4(tương đương 0,32 mg/L Cu2+) ở độ cứng dao động từ 10-400 mgCaCO3/L, độ kiềm 20 mgCaCO3/L. Ở độ kiềm 20 mgCaCO3/L, 100% cá sẽ chết khi sử dụng sulfate đồng ở liều 7,2 mg/L Cu2+ (Wurts và Perschbacher, 1994; Perschbacher và Wurts, 1999). Copper monoethanolamine là một chelate đồng còn có tên gọi là Cutrine thường được sử dụng rộng rãi trong việc xử lý ngoại ký sinh trên cá tra. Tuy nhiên, LC50 của Cutrine trên cá tra hiện nay vẫn chưa được nghiên cứu. LC50 của copper ethylenediamine là 0,8~4,0 mg/L Cu2+ đối với cá hồi (Beste, 1983). LC50 of copper-triethanolamine là 6 mg/L Cu trên cá Lepomis macrochirus(Beste, 1983).

Xem thêm : Ảnh hưởng của Sulphat đồng(CuSO4.5H20) diệt tảo với môi trường nuôi

Share